logo
banner
*Tìm kiếm - Tra cứu thông tin:

NGND. PGS. LÊ MẬU HÃN*

 

Trong lịch sử tiến hóa của dân tộc Việt Nam, dưới ngọn cờ cách mạng Hồ Chí Minh, đất nước ta đã tiến những bước nhảy vọt vĩ đại, mở đầu bằng một cuộc Cách mạng Tháng Tám và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1945. Một kỷ nguyên mới của dân tộc đã đến kỷ nguyên độc lập tự do. Có sự kiện lịch sử vĩ đại này là nhờ Nguyễn Ái Quốc Hồ Chí Minh đã biết kết hợp một cách tài tình chủ nghĩa Mác Lênin với giá trị triết lý lịch sử phương Đông và tư tưởng văn hóa Việt Nam làm cơ sở tư tưởng cho mọi hành động cách mạng của Đảng và nhân dân ta trong cuộc đấu tranh vì sự sinh tồn của dân tộc. Việt Nam cũng như nhiều nước khác trên thế giới bị chủ nghĩa đế quốc xâm lược và thống trị. Tính đến năm 1914, chỉ riêng sáu nước đế quốc Anh, Pháp, Nga, Đức, Mỹ, Nhật đã chiếm một khu vực thuộc địa rộng 65,0 triệu kilômét vuông, gồm 523,4 triệu dân1. Đám mây đen khổng lồ của chủ nghĩa đế quốc thực dân đã trĩu nặng trên một khu vực rộng lớn bầu trời thế giới. Ách áp bức và thôn tính dân tộc của chủ nghĩa đế quốc thực dân càng nặng, sự phản ứng dân tộc càng tăng, nhu cầu giải phóng các dân tộc khỏi sự nô dịch của chủ nghĩa đế quốc thực dân càng khẩn thiết. Cuộc đấu tranh để giải phóng các dân tộc thuộc địa đã trở thành một bộ phận của cuộc đấu tranh cách mạng giải phóng của nhân loại trong thời đại cách mạng vô sản trên toàn thế giới. Lý luận về đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản, về ba cuộc giải phóng tuy ra đời ở châu Âu, song sẽ vẫn đúng cả ở phương Đông: “Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được”2. Nắm vững quan điểm biện chứng duy vật, Hồ Chí Minh đã phân tích một cách khách quan cấu trúc kinh tế, xã hội và giai cấp ở các nước phương Đông không giống các nước phương Tây nên cuộc đấu tranh giai cấp ở phương Đông diễn ra không giống như ở phương Tây. Sự xung đột về quyền lợi của các giai cấp trong nội bộ dân tộc ở đây được giảm thiểu, không quyết liệt. “Điều đó, không thể chối cãi được”3. Ngược lại thì cuộc đấu tranh dân tộc diễn ra liên tục. Song các cuộc nổi dậy oanh liệt đó đều đã lần lượt bị dập tắt vì thiếu tổ chức và lãnh đạo đúng đắn. Nhân dân thuộc địa cũng như nhân dân Việt Nam ta vẫn chìm đắm trong đêm dài nô lệ, chưa tìm được con đường đến độc lập tự do.

Giữa lúc đó, Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước đã đến với ánh sáng giải phóng của chủ nghĩa Mác Lênin.

Chủ nghĩa Mác Lênin là một khoa học cách mạng phát triển và sáng tạo chứ không phải là một giáo điều. Hồ Chí Minh có ý thức phải dựa vào thực tế, tôn trọng quy luật khách quan trong việc xây dựng lý luận, hoạch định chiến lược, đường lối, chủ trương và phương thức cách mạng. Vào đầu năm 1924, khi trả lời phỏng vấn của phóng viên báo L'unità, Hồ Chí Minh nói sau khi học xong ở Trường Đại học Phương Đông Mátxcơva trở về Tổ quốc, Người tiếp tục đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười và sẽ vận dụng vào thực tiễn những bài học đã học được. Nhờ tham gia hoạt động trong Quốc tế Cộng sản, Hồ Chí Minh nhận thấy tình hình ở các thuộc địa của Pháp nói chung và Đông Dương nói riêng ít được biết đến trong giới vô sản và cộng sản Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng sản Pháp rất ít được thông tin về những gì xảy ra ở những thuộc địa đó. Vì vậy, trong thư gửi Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản tháng 4-1924, Hồ Chí Minh nêu rõ: “Nếu chúng ta muốn hoạt động một cách có ích về vấn đề thuộc địa thì nhất thiết phải bắt liên lạc với các thuộc địa đó”4. Người không có ý định đệ trình với Quốc tế Cộng sản một luận cương mà “chỉ muốn nêu cho thấy sự cần thiết... là phải nghiên cứu tất cả một cách chính xác, và phải tạo ra cái gì đó nếu chưa có gì”5. Nói một cách cụ thể là phải khảo sát và nghiên cứu thực tế.

Nhờ có ý thức phải nghiên cứu tất cả một cách chính xác, Hồ Chí Minh đã có một sự hiểu biết phong phú, sâu sắc về lịch sử, đất nước, xã hội và con người Việt Nam. Đây là điểm xuất phát để Hồ Chí Minh xây dựng lý luận, cương lĩnh, chiến lược, đường lối, chủ trương và phương pháp cách mạng đúng đắn và sáng tạo.

Hệ quả của chính sách xâm lược, thống trị và bóc lột thuộc địa một cách tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc thực dân đã làm cho mâu thuẫn giữa chúng với các dân tộc bị nô dịch càng sâu sắc. Phong trào dân tộc của nhân dân các thuộc địa đã liên tục phát triển. Nhân dân các thuộc địa nói chung, châu Á và Việt Nam nói riêng sẵn có một tiềm năng cách mạng to lớn. Người châu Á nói chung, nhân dân Việt Nam nói riêng “tuy bị người phương Tây coi là lạc hậu vẫn hiểu rõ hơn hết sự cần thiết cải cách toàn bộ xã hội hiện tại”6. Và hãy “xét những lý do lịch sử cho phép chủ nghĩa cộng sản thâm nhập dễ dàng vào châu Á, dễ dàng hơn là ở châu Âu”7. Sự tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc thực dân ở các thuộc địa đã chuẩn bị sẵn đất rồi. “Chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi”8. “Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến. Bộ phận ưu tú có nhiệm vụ phải thúc đẩy cho thời cơ đó mau đến”9. Khi thời cơ đến, cách mạng thuộc địa sẽ bùng nổ quyết liệt và giành được thắng lợi trước cách mạng ở chính quốc.

Ngay từ năm 1921, Hồ Chí Minh đã nêu rõ khả năng đó rằng: “Ngày mà hàng trăm triệu nhân dân châu Á bị tàn sát và áp bức thức tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của một bọn thực dân lòng tham không đáy, họ sẽ hình thành một lực lượng khổng lồ, và trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc, họ có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”10. Quả là một dự kiến táo bạo sáng tạo và mang tính biện chứng khách quan, vượt xa những đánh giá của quốc tế cộng sản về khả năng cách mạng thuộc địa lúc bấy giờ11.

Muốn gieo hạt giống của công cuộc giải phóng và tổ chức nhân dân đấu tranh thì trước hết phải có đảng cách mạng. Đảng có vững cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Chính vì vậy, Hồ Chí Minh đã tích cực tổ chức huấn luyện, đào tạo cán bộ cách mạng, lập ra Hội Việt Nam Cách mệnh Thanh niên (1925). Hội này là cơ sở cho một đảng cách mạng lớn về sau. “Nó là quả trứng, mà từ đó nở ra con chim non cộng sản (Đảng Cộng sản)”. Tổ chức ra Hội Việt Nam Cách mệnh Thanh niên nhằm tập hợp những thanh niên yêu nước, những đại diện ưu tú tiêu biểu của dân tộc thành tổ chức tiền thân là một nét sáng tạo của Hồ Chí Minh về việc chuẩn bị sáng lập Đảng Cộng sản ở một nước thuộc địa. Đến đầu năm 1930, trước sự xuất hiện các Đảng Cộng sản hoạt động biệt lập ở nước ta, Hồ Chí Minh đã xuất hiện đúng lúc, đúng yêu cầu của lịch sử, chủ động, quyết đoán, độc lập và sáng tạo phát huy đầy đủ quyền quyết định của mình đối với mọi vấn đề liên quan đến phong trào cách mạng ở Đông Dương để thống nhất các tổ chức cộng sản lập thành một đảng duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam, một đảng đạo đức và văn minh, đội tiền phong cách mạng, đại biểu cho lợi ích, trí tuệ, danh dự của giai cấp công nhân, của dân tộc Việt Nam.

Đảng Cộng sản Việt Nam đảm nhận sứ mệnh lịch sử lãnh đạo và tổ chức nhân dân Việt Nam đấu tranh giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản, con đường kết hợp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, song trước hết là giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc thực dân. Trong tác phẩm Đường cách mệnh, Hồ Chí Minh đã vạch rõ cách mạng ở các nước thuộc địa trước hết là một cuộc dân tộc cách mệnh. Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt - Cương lĩnh đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam do Người soạn thảo đã xác định chiến lược cách mạng của Đảng là thực hiện cuộc tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng tuy vắn tắt song đã nêu được những vấn đề cơ bản về đường lối cách mạng Việt Nam phù hợp với nhu cầu nóng bỏng của sự nghiệp cứu nước giải phóng dân tộc và thuận chiều tiến hóa của thời đại. Cương lĩnh đó đã thể hiện được mối quan hệ biện chứng giữa các yếu tố dân tộc và giai cấp, quốc gia và quốc tế trong đó nổi bật lên là yếu tố dân tộc yếu tố quyết định phần lớn tính độc đáo của cách mạng thuộc địa và của cách mạng Việt Nam. Hồ Chí Minh đã nêu rõ: “Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước... Phát động chủ nghĩa dân tộc... (là) một chính sách mang tính hiện thực tuyệt vời. Giờ đây, người ta sẽ không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên các động lực vĩ đại, và duy nhất của đời sống xã hội của họ”12.

Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Pháp Nhật cấu kết với nhau thống trị dân ta vô cùng tàn bạo. Quyền lợi của tất cả các giai cấp đều bị chúng tước đoạt. Vận mạng dân tộc nguy vong không lúc nào bằng. Thái độ chính trị của các giai cấp và các tầng lớp nhân dân Việt Nam có sự chuyển biến lớn. Không chỉ có công, nông, tiểu tư sản và các tầng lớp nhân dân lao động khác mà cả số đông tư sản bản xứ; tiểu và trung địa chủ cũng căm tức đế quốc phát xít Pháp Nhật và tay sai. Vì vậy, Hồ Chí Minh và Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã quyết định phải thay đổi chiến lược. Đảng xác định cuộc cách mạng Đông Dương lúc bấy giờ không phải là một cuộc cách mạng tư sản dân quyền có tính chất phản đế và điền địa mà là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, nhằm đánh đuổi phát xít Nhật Pháp giành lấy độc lập tự do. Sau khi đánh đuổi được Nhật Pháp sẽ thành lập một kiểu nhà nước dân tộc theo thể chế dân chủ cộng hòa, lấy lá cờ đỏ giữa có ngôi sao vàng năm cánh làm lá cờ Tổ quốc. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Quốc dân Đại hội cử ra. Sự thay đổi chiến lược quan trọng đó là một bước tiến mới về đổi mới tư duy chính trị của Đảng, của Hồ Chí Minh một thay đổi có ý nghĩa quyết định thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Cách mạng giải phóng phải do lực lượng đại đoàn kết của dân tộc thực hiện. Đoàn kết của chúng ta sẽ làm nên sức mạnh. Nó đủ sức để đánh tan bọn đế quốc. Muốn vượt qua vòng nô lệ, chúng ta chỉ có thể cậy vào sức của mình mà thôi. Quan điểm chiến lược này đã được Hồ Chí Minh nêu ra trong bài giảng tại các lớp huấn luyện cán bộ ở Quảng Châu năm 1925. Từ quan điểm đó, cương lĩnh đầu tiên của Đảng thể hiện thành chủ trương thu phục, tập hợp đông đảo quần chúng công nhân và nông dân, hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, phú nông, tư sản tiểu và trung địa chủ, còn các bộ phận nào phản cách mạng thì phải đánh đổ. Từ tháng 5-1941 trở đi, thực hiện nhiệm vụ đánh đuổi Nhật Pháp, Đảng và Hồ Chí Minh chủ trương tập hợp hết thảy các giới đồng bào yêu nước, không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, trai gái, tôn giáo và xu hướng chính trị. “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng”13. Để thực hiện đại đoàn kết dân tộc trên cơ sở nắm vững mục tiêu cao cả là độc lập tự do, cần phải biết gắn kết quyền lợi tối cao của dân tộc với lợi ích thiết thực của các giai cấp, các tầng lớp nhân dân, lấy lợi ích cơ bản, lợi ích chung làm điểm tương đồng. Đồng thời phải có hình thức tổ chức thích hợp, có khả năng khơi dậy mạnh mẽ tinh thần dân tộc với mọi đối tượng đoàn kết. Việt Nam độc lập đồng minh, gọi tắt là Việt Minh, là một tổ chức có sức quy tụ và dẫn dắt cả dân tộc vùng lên đánh đuổi Nhật Pháp, thực hiện hai điều mà toàn thể đồng bào ta đều mong ước là nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập, dân Việt Nam được sung sướng tự do.

Cách mạng giai phóng dân tộc là việc chung của cả dân chúng vùng lên đánh đổ ách thống trị tàn bạo của bọn đế quốc thực dân. Khởi nghĩa dân tộc và chiến tranh giải phóng dân tộc là những phương thức đấu tranh cơ bản của nhân dân thuộc địa để đập tan nền thống trị của đế quốc và tay sai. V.I.Lênin từng nêu rõ: “những lò lửa khởi nghĩa dân tộc, xuất hiện gắn liền với cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa đế quốc, đã bùng cháy cả ở các thuộc địa, cả ở châu Âu”14 mặc dù bọn đế quốc thực dân đã đàn áp dã man. Khởi nghĩa dân tộc là “một cuộc khởi nghĩa nhằm thiết lập quyền độc lập chính trị của dân tộc bị áp bức, nghĩa là nhằm tạo ra một quốc gia dân tộc riêng biệt”15.

Hồ Chí Minh đã sớm nêu quan điểm về khởi nghĩa dân tộc kết hợp đấu tranh ở nông thôn và đô thị, đặc biệt là khởi nghĩa ở các trung tâm chính trị đầu não của giai cấp thống trị. Người vạch rõ: “Đảng của giai cấp vô sản cần phải phối hợp phong trào nông dân với các mục tiêu cách mạng và các hoạt động của giai cấp vô sản ở các trung tâm công nghiệp... Tổ chức và chuẩn bị các hoạt động phối hợp, nếu có thể cùng một lúc ở thành thị và nông thôn thì đó sẽ là mục đích căn bản của đảng cách mạng ở các nước nông nghiệp và nửa nông nghiệp”16. Để bảo đảm chắc chắn cho sự nghiệp phối hợp hành động giữa giai cấp vô sản và nông dân, đảng của giai cấp vô sản, trước hết ở tất cả các nước nông nghiệp và nửa nông nghiệp, phải quan tâm tới công tác chính trị và tổ chức (cả về công tác quân sự) trong nông dân”17. Hồ Chí Minh cũng đã sớm dự đoán về khả năng khởi nghĩa vũ trang thắng lợi ở Đông Dương. Để đưa đến thắng lợi, cuộc khởi nghĩa ở đây “phải có tính chất một cuộc khởi nghĩa quần chúng chứ không phải là một cuộc nổi loạn. Cuộc khởi nghĩa phải được chuẩn bị trong quần chúng, nổ ra trong thành phố, theo kiểu các cuộc cách mạng ở châu Âu, chứ không phải nổ ra đột ngột ở biên giới Trung Quốc theo phương pháp của những nhà cách mạng trước đây”18. Những quan điểm rất cơ bản và sáng tạo trên của Hồ Chí Minh là cơ sở lý luận để chính Người và Ban Chấp hành Trung ương Đảng vạch ra chủ trương, biện pháp tiến hành chuẩn bị và tiến lên khởi nghĩa giành chính quyền về sau. Và thông qua thực tiễn tổ chức lãnh đạo và đấu tranh, Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã bổ sung, hoàn chỉnh và làm phong phú thêm các quan điểm của Người vạch ra trong những năm 20 của thế kỷ XX.

Để tiến lên khởi nghĩa, bản Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng do Hội nghị hợp nhất Đảng đầu năm 1980 thông qua đã nêu lên chủ trương Đảng phải thu phục cho được đông đảo công nhân, nông dân, tiểu tư sản, trí thức, cả phú nông, tiểu và trung địa chủ về phía cách mạng. Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương (tháng l0-1930) đã đề cập đến cách tranh đấu để giành chính quyền bằng phương thức “võ trang bạo động” và nêu các nguyên tắc về khởi nghĩa vũ trang theo học thuyết của chủ nghĩa Mác Lênin.

Đầu năm 1941, Hồ Chí Minh đã trở về nước trực tiếp lãnh đạo cuộc cách mạng dân tộc giải phóng của nhân dân ta. Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng do Người trực tiếp chỉ đạo đã nêu rõ cuộc cách mạng Đông Dương phải kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa võ trang “Chuẩn bị khởi nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện tại”19.

Để đưa cuộc khởi nghĩa đến thắng lợi, Đảng đã tích cực chuẩn bị cả lực lượng chính trị quần chúng và lực lượng vũ trang, đấu tranh cả ở nông thôn và đô thị, xây dựng căn cứ địa cách mạng, tiến hành chiến tranh du kích cục bộ, khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa mà đòn quyết định là khởi nghĩa ở trong các thành phố như Hồ Chí Minh đã nêu trong năm 1924. Khởi nghĩa dân tộc là sự nghiệp của toàn dân tộc, nổ ra trong toàn quốc cả ở nông thôn và đô thị mới xóa bỏ được toàn bộ hệ thống chính trị của bọn đế quốc và tay sai. Song khởi nghĩa ở các đô thị, các thành phố, nhất là các thủ phủ lớn mới đập tan được trung tâm đầu não của giai cấp thống trị. Kinh nghiệm lịch sử các cuộc khởi nghĩa trên thế giới từ Tây sang Đông đều cho thấy rõ ý nghĩa quyết định thắng lợi của khởi nghĩa ở thành phố, ở thủ đô. Từ tháng 3 đến tháng 8-1945, Đảng đã tổ chức và lãnh đạo cao trào kháng Nhật cứu nước trong toàn quốc, khởi nghĩa từng phần ở vùng rừng núi, nông thôn, phát động du kích chiến tranh, thành lập Khu giải phóng Việt Bắc, lập chính quyền bộ phận, chuẩn bị những tiền đề trực tiếp cho cuộc tổng khởi nghĩa trong toàn quốc. Tháng 8-1945, thời cơ ngàn năm có một cho ta giành chính quyền đã đến, song nguy cơ mới cũng đã xuất hiện. Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào đã quyết định phải tập trung lực lượng, thống nhất quân sự, chính trị, hành động và chỉ huy, kịp thời hành động, không bỏ thời cơ, tiến hành tổng khởi nghĩa cả ở thành phố và nông thôn, đặc biệt là các thành phố. Ủy ban Khởi nghĩa đã ra mệnh lệnh phải “tập trung lực lượng, kíp đánh vào các đô thị và trọng trấn của quân địch”, và “phải hành động cho nhanh với một tinh thần vô cùng quả cảm”. Cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 là do lực lượng của toàn dân tiến hành có lực lượng vũ trang làm nòng cốt và xung kích đã diễn ra thắng lợi trong cả nước, tiêu biểu và giữ vai trò thắng lợi quyết định là khởi nghĩa ở Hà Nội (ngày 19-8), Huế (ngày 23-8), Sài Gòn (ngày 25-8). Cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã thành công rực rỡ. Đây là một thành công sáng tạo của Hồ Chí Minh, của Đảng trong phương thức và nghệ thuật khởi nghĩa dân tộc. “Hành động mau lẹ của Đảng ta chuyển nhanh từ chiến tranh du kích cục bộ ở nông thôn sang phát động tuyệt đại đa số quần chúng nhất tề đứng lên cùng với lực lượng vũ trang mới tổ chức và ít ỏi lúc ban đầu, tiến hành khởi nghĩa ở thành thị là một chủ trương vô cùng sáng suốt của Trung ương Đảng lúc bấy giờ trong việc nắm thời cơ. Chỉ trong một thời gian ngắn mà đã đánh đổ được toàn bộ chính quyền phản động, thiết lập chính quyền cách mạng trong cả nước trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương, là nhờ khí thế vùng dậy lay trời chuyển đất của hàng triệu quần chúng, tạo nên một ưu thế áp đảo, giáng một đòn quyết định vào tất cả cơ quan đầu não của bọn Việt gian, làm tê liệt mọi sự kháng cự của các thế lực thù địch, khiến cho chúng không kịp trở tay”. Lúc bấy giờ “khi thời cơ đã xuất hiện, mà ta chỉ đưa vào rừng núi và nông thôn mà không nhanh chóng động viên hàng triệu quần chúng đứng lên, không chuyển toàn bộ lực lượng chính trị và vũ trang của ta giáng những đòn tiến công quyết liệt vào trung tâm thần kinh của địch ở thành thị thì có thể ta đã lỡ một thời cơ có một không hai trong những ngày tháng 8 năm 1945. Một giả thiết như vậy không phải không có cơ sở”20.

Chớp thời cơ thuận lợi ngàn năm có một, bằng sức mạnh của cả cộng đồng dân tộc, Việt Nam đã đứng dậy xóa bỏ nhanh chóng bộ máy thống trị của đế quốc và tay sai, thành lập chính quyền cách mạng trong cả nước. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một điển hình về cách mạng dân tộc, một cuộc cách mạng vô cùng nhân đạo, thể hiện chủ nghĩa dân tộc sáng suốt. Sự thức tỉnh của ý thức dân tộc Việt Nam không hề đi theo lối bài ngoại quen thuộc, đặc điểm của những bùng nổ thông thường bột phát của chủ nghĩa dân tộc sôvanh. Cuộc cách mạng đó ở Việt Nam có một ưu điểm lớn so với cách mạng ở nhiều nước trên thế giới: “Cách mạng ở đâu thành công cũng phải đổ máu nhiều. Có nước phải chặt đầu vua. Có nước đồng bào chia đảng phái, chém giết nhau liên tiếp trong bao nhiêu năm. Nước ta, vua tự thoái vị, các đảng phái không có mấy. Trong một thời gian ngắn, các giai cấp đoàn kết thành một khối, muôn dân đoàn kết mưu hạnh phúc chung là được hoàn toàn độc lập và chống được giặc xâm lăng, đuổi bọn thực dân tham ác ra ngoài bờ cõi”21.

Thành công của Cách mạng Tháng Tám đã đưa đến sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa một nước độc lập tự do. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa do Quốc dân Đại hội bầu ra là một Chính phủ của dân, do dân và vì dân. Hoạt động của Chính phủ luôn luôn “tỏ rõ một ý muốn duy nhất làm sao đem lại cho dân chúng được tự do độc lập hoàn toàn và để cho tất cả mọi phần tử quốc dân được hưởng tự do độc lập ấy như muôn vật được hưởng ánh sáng mặt trời”22.

Sự ra đời và lớn mạnh của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã trở thành một nhân tố cách mạng cơ bản, một vũ khí để động viên và tổ chức sức mạnh của toàn dân tộc tiến hành kháng chiến và kiến quốc, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), kháng chiến chống đế quốc Mỹ (1954-1975) thắng lợi và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Trong điều kiện mới của sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc, Đảng và Nhà nước ta càng có điều kiện mới để mở rộng hơn nữa khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết các giai cấp, các tầng lớp, các dân tộc, các tôn giáo, mọi người trong đại gia đình dân tộc Việt Nam dù sống trong nước hay ở nước ngoài nhằm phát huy sức mạnh của cả cộng đồng dân tộc, truyền thống yêu nước và tự hào dân tộc vì mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh.

 

Nguồn: Học viện Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Tư tưởng Hồ Chí Minh về dựng nước và giữ nước,

Nxb.Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2000, tr.171-185. 

________________________

* Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội.

1. Xem V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1984, t.27, tr.478.

2, 3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.1, tr.465, 464.

4, 5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.251.

6, 7. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.35.

8, 9. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.28.

10. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.36.

11. Năm 1928, “Đề cương về phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa” của Đại hội lần thứ VI Quốc tế Cộng sản vẫn nhận định: “Việc giải phóng các nước thuộc địa khỏi ách đế quốc thực dân được dễ dàng hơn ở sự phát triển của cách mạng xã hội chủ nghĩa trong thế giới tư bản là sự giải phóng đó chỉ có thể thực hiện được hoàn toàn khi giai cấp vô sản giành được thắng lợi ở các nước tư bản tiên tiến”. (Xem: Quốc tế Cộng sản với vấn đề dân tộc và thuộc địa, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1960, tr.61).

12. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.466-467.

13. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.198.

14. V.I.Lênin: Toàn tập, Sđd, t.30, tr.67.

15. V.I.Lênin: Toàn tập, Sđd, t.30, tr.150.

16, 17, 18. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.414, 417-418, 468-469.

19. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.645.

20. Lê Duẩn: Bài phát biểu tại Hội nghị lần thứ 19 Ban Chấp hành Trung ương khóa 3, tháng 1-1971, lưu hành nội bộ.

21, 22. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.43-44, 45.

141 nhac
101 nhac
Bên Lăng Bác Hồ
Vũ Minh Vương
70 nhac
Bác vẫn bên ta
NSND Lê Dung
108 nhac
127 nhac
Biết ơn cụ Hồ
Tốp ca nam nữ Đài TNVN
101 nhac
68 nhac
Cô gái Pako
NSND Thu Hiền
137 nhac
77 nhac
113 nhac
154 nhac
114 nhac
116 nhac
87 nhac
Người Về Thăm Quê
Đức Thuyết
107 nhac
116 nhac
Thăm Bến Nhà Rồng
NSUT Thanh Thanh Hiền
128 nhac
109 nhac
105 nhac
125 nhac
Từ Làng Sen
Phạm Phương Thảo
107 nhac
Vầng Trăng Ba Đình
NSND Thanh Hoa
61 nhac
Viếng Lăng Bác
Hương Mơ
103 nhac
Việt Nam Đẹp Nhất Có Tên Bác Hồ
Hợp xướng Nhà Hát GHVN
106 nhac
Lời Bác Hồ Rung Chuyển Bốn Phương
Đoàn ca múa QK Việt Bắc
146 nhac
Suối Lê Nin
Thúy Hà
112 nhac
Miền Nam Đón Mừng Thơ Bác
Tốp ca nữ Đài TNVN
66 nhac
Về Chùa Trầm Nhớ Bác
Hồng Liên-Phương Quý.
89 nhac
Mang Hình Bác Chúng Ta Đi
Tốp ca nam nữ Đài TNVN
91 nhac
132 nhac

 

SÁCH  ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN HỌC TẬP VÀ LÀM THEO

TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH  HỒ CHÍ MINH

Hotline: 0376351594

Email: Lehaonlu@gmail.com

Đang online : 9

Hôm nay : 89

Trong tháng : 2236

Tổng truy cập : 31232