logo
banner
*Tìm kiếm - Tra cứu thông tin:

Đại tướng VĂN TIẾN DŨNG*

 

Điện Biên Phủ là chiến dịch quyết định trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 1954, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, giải phóng nửa nước. Chiến cuộc Đông Xuân 1953 1954 mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ là điển hình thành công của việc quán triệt và tổ chức thực hiện tư tưởng chiến tranh toàn dân, toàn diện của Hồ Chí Minh và của Đảng ta.

Ở thời điểm cuối cùng của cuộc đọ sức quyết liệt giữa dân tộc Việt Nam và đế quốc Pháp xâm lược, có sự hỗ trợ của đế quốc Mỹ, dân tộc Việt Nam đã thắng, đế quốc Pháp đã thua. Đó cũng là thắng lợi của chiến tranh nhân dân Việt Nam.

Chiến cuộc Đông Xuân 1953 1954 là một loại hoạt động chiến lược của chiến tranh nhân dân Việt Nam, rất khác các hoạt động chiến lược của các cuộc chiến tranh cổ điển chỉ bằng quân đội chính quy. Phát huy đến mức cao nhất sức mạnh của ba thứ quân và của toàn dân trên quy mô toàn quốc và trên toàn Đông Dương. Kết hợp các chiến dịch tiến công và một số chiến dịch phản công của bộ đội chủ lực với các chiến dịch chống càn quét của chiến tranh du kích trong đó có một số chiến dịch của chiến tranh nhân dân địa phương. Kết hợp đánh địch đều khắp trên các chiến trường với đánh đòn quyết định bằng chiến dịch quyết chiến chiến lược ở hướng chủ yếu. Kết hợp các đòn tiến công quân sự của các lực lượng vũ trang nhân dân với các cuộc nổi dậy phá tề, giành quyền làm chủ của nhân dân trong vùng địch tạm chiếm. Kết hợp tiền tuyến và hậu phương từ Bắc đến Nam, cả nước dốc sức cho mặt trận chính theo khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”. Mọi hoạt động của lực lượng vũ trang và nhân dân đã diễn ra theo một kế hoạch tác chiến chiến lược thống nhất, nhằm mục đích đánh bại cố gắng chiến tranh lớn nhất và cuối cùng của thực dân Pháp trong kế hoạch Nava, giành thắng lợi quyết định cho kháng chiến. Các chiến dịch, các trận đánh lớn, các đợt hoạt động... diễn ra kế tiếp nhau, đồng thời với nhau, xen kẽ vào nhau, tạo điều kiện và hỗ trợ cho nhau, các chiến trường phối hợp với nhau đã dẫn tới thắng lợi của chiến dịch quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ.

Tư tưởng chiến tranh toàn dân, toàn diện của Hồ Chí Minh và của Đảng ta hình thành và phát triển dần trong thực tiễn đấu tranh cách mạng và kháng chiến chống Pháp. Tư tưởng đó lại đã phát triển lên một trình độ mới rất cao trong kháng chiến chống Mỹ. Đó là một di sản quân sự cực kỳ quý báu của Hồ Chí Mình, có vị trí quan trọng quyết định trong chiến tranh giải phóng, chiến tranh giữ nước vừa qua. Nó vẫn giữ nguyên vị trí và ý nghĩa trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc ta ngày nay.

Tư tưởng đó phù hợp với nguyên lý của chủ nghĩa Mác Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử xuất phát từ truyền thống quân sự “cả nước một lòng, toàn dân đánh giặc” của dân tộc Việt Nam, từ lòng yêu nước nồng nàn của con người Việt Nam hun đúc qua nhiều thế kỷ giữ nước và dựng nước, được phát huy mạnh mẽ sau Cách mạng Tháng Tám.

Lòng yêu nước của người Việt Nam với nội dung mới hướng về chủ nghĩa xã hội sau Cách mạng Tháng Tám 1945 đã được Bác Hồ biểu thị thành quyết tâm sắt đá “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng quyết giành cho được độc lập tự do”. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, đó là tinh thần “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, đó là khẩu hiệu có ý nghĩa thời đại “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Đó là động lực tinh thần có sức mạnh vô địch của chiến tranh nhân dân Việt Nam.

Tư tưởng chiến tranh toàn dân, toàn diện của Bác Hồ và của Đảng ta thể hiện thành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong kháng chiến. Tư tưởng đó thấm sâu vào quần chúng, vào đầu óc thông minh sáng tạo và chí khí quật cường của nhân dân và quân đội, trở thành nền tảng của khoa học và nghệ thuật quân sự độc đáo của chiến tranh nhân dân - mà Điện Biên Phủ và cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 1954 là một thành công tiêu biểu trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Chiến tranh nhân dân Việt Nam ở thời đại Hồ Chí Minh đã trở thành vũ khí bất khả chiến bại của nhân dân và quân đội ta trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc.

Tư tưởng chiến tranh toàn dân, toàn diện của Bác Hồ mang nhiều nội dung rất phong phú. Mọi người còn nhớ Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến nổi tiếng của Bác Hồ ngày 19-12-1946.

Đó thực sự là tư tưởng chiến tranh toàn dân, toàn diện một cách triệt để, một tư tưởng lớn mà rất cụ thể. Toàn dân là mọi người dân, từ thành thị đến nông thôn, ở vùng tự do và cả trong vùng tạm bị chiếm. Toàn thể dân tộc Việt Nam là mọi người dân yêu nước đều tham gia đánh địch, bằng mọi vũ khí và dụng cụ, công cụ có trong tay, bằng nhiều cách đánh sáng tạo. Vừa chiến đấu, vừa tăng gia sản xuất phục vụ tiền tuyến. Làm vườn không nhà trống, bất hợp tác với giặc, tản cư cũng là yêu nước. Toàn diện là đánh địch trên mọi mặt: đánh bằng quân sự là chủ yếu, kết hợp đánh địch bằng chính trị, kinh tế, văn hóa, tư tưởng và ngoại giao. Kháng chiến toàn diện, diệt giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Vừa kháng chiến vừa kiến quốc.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Bác Hồ đã có rất nhiều thư gửi đồng bào, đồng chí, cán bộ, đảng viên, chiến sĩ lực lượng vũ trang, các tầng lớp nhân dân... kêu gọi, động viên, cổ vũ thi đua yêu nước, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ của kháng chiến. Người còn gửi thư kêu gọi những người lầm đường lạc lối trở về với nhân dân, với Tổ quốc; thư gửi tướng lĩnh và binh lính Pháp, nhân dân Pháp giải thích sự nghiệp chính nghĩa của dân tộc Việt Nam; thư gửi cá nhân, đoàn thể, nhân dân các dân tộc trên thế giới kêu gọi ủng hộ cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân ta.

Sức mạnh của chiến tranh toàn dân, của cả dân tộc Việt Nam với động lực mới là quần chúng công nông dưới sự lãnh đạo của Đảng, của giai cấp công nhân (như Bác nói “Công nông là gốc của cách mạng”), kết hợp với sự ủng hộ và giúp đỡ quốc tế, sức mạnh của thời đại đã đưa đến cao trào của cuộc tiến công chiến lược, đến chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, đến thắng lợi vĩ đại của kháng chiến chống thực dân Pháp.

Cũng từ sức mạnh đó phát triển lên một đỉnh cao mới, dân tộc Việt Nam ta lại đã làm nên thắng lợi lịch sử vĩ đại trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ.

Chiến tranh toàn dân phải có lực lượng vũ trang nhân dân gồm ba thứ quân làm nòng cốt. Trong Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân tháng 12-1944, Hồ Chí Minh đã nêu rõ vai trò của quân đội, của đội quân chủ lực và của lực lượng vũ trang địa phương trong kháng chiến toàn dân. Lực lượng vũ trang nhân dân phải dựa vào sức mạnh của toàn dân, sức dân phải được bồi dưỡng không ngừng mới có thể đánh thắng được quân đội nhà nghề và chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa đế quốc.

Bác Hồ dành sự quan tâm đặc biệt cho các lực lượng vũ trang nhân dân, hết lòng chăm lo dạy bảo cán bộ và chiến sĩ, chăm lo xây dựng quân đội ta thành một quân đội cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, thực sự của dân, do dân và vì dân. Người chăm lo xây dựng quân đội ta từ một đội quân du kích dần dần trở thành một quân đội ngày càng chính quy và hiện đại, từ một đội quân chủ yếu là bộ binh tiến dần lên thành một quân đội gồm nhiều binh chủng và quân chủng. Hồ Chí Minh là người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân. Cán bộ và chiến sĩ ta luôn luôn cố gắng xứng đáng là “Bộ đội Cụ Hồ”.

Bác Hồ đánh giá rất cao vai trò của dân quân du kích, dân quân tự vệ, coi đó là “bức tường đồng, vách sắt”, kẻ thù nào đụng đầu vào cũng phải thất bại. Người rất coi trọng vai trò của du kích, của chiến thuật du kích. Tự tay Người đã biên soạn Cách đánh du kích, giới thiệuKinh nghiệm du kích Nga, Kinh nghiệm du kích Tàu, Kinh nghiệm du kích Pháp cho nhân dân và cán bộ, chiến sĩ ta.

Sự phân công nhiệm vụ giữa quân đội và dân quân du kích đã được Bác nêu ngắn gọn và dễ hiểu, như trong thư gửi báo Quân du kích(tháng 7-1949): “Nhiệm vụ của du kích là: ngăn cản giặc, tiêu hao giặc, giữ gìn quê hương, để cho Vệ quốc quân được rảnh tay, tìm cơ hội đánh những trận to để tiêu diệt chủ lực của giặc...”.

Đó cũng là tư tưởng kết hợp ba thứ quân, kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, kết hợp chiến tranh nhân dân địa phương với chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực trong tư tưởng chiến tranh toàn dân của Hồ Chí Minh, đã trở thành một quy luật giành thắng lợi của chiến tranh nhân dân Việt Nam. Trong kháng chiến chống Pháp, điều đó đã thể hiện nổi bật trong cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân năm 1953 1954. Trong kháng chiến chống Mỹ, điều đó phát triển lên một trình độ mới, cả trong chiến tranh giải phóng ở miền Nam và trong chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại ở miền Bắc.

Trong tư tưởng chiến tranh toàn dân của mình, khi nhấn mạnh vai trò của quần chúng nhân dân, Bác rất coi trọng vai trò của quân đội, của các quân chủng và binh chủng hiện đại; trong khi nhấn rất mạnh việc phát huy truyền thống và kinh nghiệm của quân và dân ta, Bác rất coi trọng việc học tập kinh nghiệm của các nước anh em, đặc biệt là kinh nghiệm về chiến tranh hiện đại và quân đội hiện đại của Liên Xô, đồng thời chú ý cả kinh nghiệm hay của các nước khác trên thế giới.

Có lẽ cần lưu ý đến một tư tưởng chỉ đạo rất quan trọng của tư tưởng chiến tranh toàn dân của Bác Hồ và của Đảng ta: “Mỗi phố là một mặt trận”, “Mỗi làng là một pháo đài” (Chỉ thị Toàn dân kháng chiến của Thường vụ Trung ương Đảng, ngày 12-12-1946), “Mỗi quốc dân là một chiến sĩ”, “Mỗi làng xóm là một pháo đài” (thư gửi báo Quân du kích tháng 7 1949). Đó là tư tưởng trụ bám, làm chủ quê hương, làng bản, đường phố để đánh địch - một nét đặc sắc của chiến tranh nhân dân Việt Nam, khác với kiểu chiến tranh du kích của các nước khác. Vì vậy, ta đã gọi đúng thực chất là chiến tranh nhân dân ở cơ sở (làng, xã, đường phố của dân quân du kích, dân quân tự vệ và nhân dân) và chiến tranh nhân dân địa phương (ở tỉnh, huyện của nhân dân và các lực lượng vũ trang địa phương). Nhờ vậy, chiến tranh nhân dân Việt Nam mới có những làng, xã chiến đấu như Nguyên Xá, Cảnh Dương..., những trận chống càn thắng lợi để bảo vệ quê hương, làng xóm, những cuộc nổi dậy phá tề trừ gian, lập chính quyền cách mạng (trong kháng chiến chống Pháp); mới có khẩu hiệu “ba bám” có những cuộc tiến công và nổi dậy phá “ấp chiến lược”, giành quyền làm chủ với mức độ khác nhau... (trong kháng chiến chống Mỹ). Lại còn phải nói đến những “vành đai diệt Mỹ”, rồi những Củ Chi, Long Đất... (ở miền Nam) và Vĩnh Linh (ở miền Bắc) là sự phát triển của làng xã chiến đấu lên quy mô huyện, là những huyện pháo đài thép kiên cường trụ bám và đánh địch, rất độc đáo của chiến tranh toàn dân ở nước ta.

Còn chiến tranh chính quy, chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực của ta cũng không phải là kiểu chiến tranh cổ điển bằng quân đội như ở các nước khác. Nó là một bộ phận hữu cơ của chiến tranh nhân dân Việt Nam, gắn liền với chiến tranh nhân dân địa phương, tác động qua lại với chiến tranh nhân dân địa phương và phát triển theo quy luật riêng của chiến tranh nhân dân Việt Nam.

Tư tưởng chiến tranh toàn dân, toàn diện của Bác Hồ và của Đảng ta được vận dụng và phát triển trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thể hiện trong đường lối quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân và tiến hành chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, kể từ sau ngày giải phóng hoàn toàn đất nước năm 1975 đến nay.

Theo đường lối đó, quân và dân ta đã liên tiếp chiến thắng trong hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc và làm tròn nghĩa vụ quốc tế. Quán triệt đường lối Đại hội IV và Đại hội V của Đảng, kết hợp kinh tế với quốc phòng, trong lĩnh vực quân sự, chúng ta đã triển khai xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh trên cả nước và trên từng địa phương, xây dựng tỉnh thành đơn vị chiến lược của quốc phòng toàn dân và chiến tranh nhân dân, xây dựng huyện thành pháo đài vững chắc bảo vệ Tổ quốc như các văn kiện của Đảng đã nêu rõ. Đó chính là sự quán triệt tư tưởng chiến tranh toàn dân nói chung, tư tưởng “Mỗi quốc dân là một chiến sĩ”, “Mỗi làng xóm là một pháo đài” nói riêng của Bác Hồ vào điều kiện và hoàn cảnh mới, trên quy mô tỉnh và huyện, nhằm đáp ứng những yêu cầu mới, rất cao của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời tích cực xây dựng cân đối và đồng bộ cả ba thứ quân làm nòng cốt xây dựng quân đội nhân dân chính quy ngày càng hiện đại, xây dựng các binh đoàn chủ lực mạnh, tác chiến hiệp đồng quân chủng và binh chủng trên các quy mô, trở thành những quả đấm mạnh của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc, tiêu biểu cho sức mạnh mới của chế độ xã hội chủ nghĩa.

Trong quá trình quán triệt và tổ chức thực hiện đường lối quân sự của Đảng trong giai đoạn mới, chúng ta đã phải thường xuyên đấu tranh với một số khuynh hướng lệch lạc, máy móc, giáo điều và kinh nghiệm chủ nghĩa. Chúng ta cũng phạm một số khuyết điểm và thiếu sót khi đánh giá không đúng tình hình thực tế.

Theo đường lối đổi mới mà Đại hội VI của Đảng đã nêu ra, về mặt quân sự và quốc phòng, như nghị quyết về quốc phòng của Bộ Chính trị đã chỉ rõ, chúng ta phải nắm vững và vận dụng sáng tạo đường lối quân sự của Đảng. Quán triệt đường lối quốc phòng toàn dân và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, quán triệt quan điểm thực tiễn, đánh giá đúng tình hình địch, ta và xu thế hiện nay ở khu vực và trên thế giới, thực hiện một sự “điều chỉnh chiến lược” cho phù hợp với tình thế mới. Đẩy mạnh công cuộc xây dựng nền quốc phòng toàn dân trên cả nước và trong từng địa phương, xây dựng tỉnh (thành phố) và huyện thành những khu vực phòng thủ vững chắc bảo vệ Tổ quốc, ứng phó với mọi tình thế. Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng quân đội nhân dân chính quy và ngày càng hiện đại, với số lượng thích hợp, chất lượng cao, có lực lượng thường trực tinh nhuệ và lực lượng dự bị hùng hậu, được tổ chức và quản lý tốt, sẵn sàng được động viên và mở rộng khi có chiến tranh xâm lược.

Đó cũng tức là kế thừa và phát triển tư tưởng chiến tranh toàn dân, toàn diện của Hồ Chí Minh một di sản quân sự quý báu của Người và cũng là một nét đặc sắc trong học thuyết quân sự của dân tộc Việt Nam, một dân tộc nhỏ thường phải đương đầu với những kẻ thù xâm lược lớn, vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì ấm no và hạnh phúc của nhân dân.

141 nhac
101 nhac
Bên Lăng Bác Hồ
Vũ Minh Vương
70 nhac
Bác vẫn bên ta
NSND Lê Dung
108 nhac
127 nhac
Biết ơn cụ Hồ
Tốp ca nam nữ Đài TNVN
101 nhac
68 nhac
Cô gái Pako
NSND Thu Hiền
137 nhac
77 nhac
113 nhac
154 nhac
115 nhac
116 nhac
87 nhac
Người Về Thăm Quê
Đức Thuyết
107 nhac
116 nhac
Thăm Bến Nhà Rồng
NSUT Thanh Thanh Hiền
128 nhac
109 nhac
105 nhac
125 nhac
Từ Làng Sen
Phạm Phương Thảo
107 nhac
Vầng Trăng Ba Đình
NSND Thanh Hoa
61 nhac
Viếng Lăng Bác
Hương Mơ
103 nhac
Việt Nam Đẹp Nhất Có Tên Bác Hồ
Hợp xướng Nhà Hát GHVN
106 nhac
Lời Bác Hồ Rung Chuyển Bốn Phương
Đoàn ca múa QK Việt Bắc
146 nhac
Suối Lê Nin
Thúy Hà
112 nhac
Miền Nam Đón Mừng Thơ Bác
Tốp ca nữ Đài TNVN
66 nhac
Về Chùa Trầm Nhớ Bác
Hồng Liên-Phương Quý.
89 nhac
Mang Hình Bác Chúng Ta Đi
Tốp ca nam nữ Đài TNVN
91 nhac
132 nhac

 

SÁCH  ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN HỌC TẬP VÀ LÀM THEO

TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH  HỒ CHÍ MINH

Hotline: 0376351594

Email: Lehaonlu@gmail.com

Đang online : 10

Hôm nay : 92

Trong tháng : 2239

Tổng truy cập : 31235