logo
banner
*Tìm kiếm - Tra cứu thông tin:

Thượng tướng, PGS. NGUYỄN HỮU AN*

 

Đánh và đàm trước hết là những chủ trương chỉ đạo đấu tranh cách mạng trong chiến tranh giải phóng và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Bởi vì, đánh có chủ trương đánh, đàm có chủ trương đàm và giữa đánh và đàm có mối quan hệ hữu cơ với nhau, có những chủ trương thống nhất nhằm mục đích chung của đấu tranh cách mạng trong mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn lịch sử. Đánh và đàm bắt nguồn từ truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm kiên cường, bất khuất của dân tộc ta, một dân tộc đất không rộng, người không đông, luôn phải đương đầu với những kẻ thù không những có số dân, số quân đông hơn ta, mà thường chúng hơn hẳn ta về trình độ phát triển kinh tế và kỹ thuật, về trang bị và vũ khí. Đánh và đàm được hình thành và phát triển trong lịch sử của dân tộc, trải qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, mà đỉnh cao là thời đại Hồ Chí Minh.

Kế thừa và tiếp thu có chọn lọc truyền thống, kinh nghiệm quý giá của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kết hợp chặt chẽ giữa đánh và đàm, giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, ngoại giao... trở thành một quan điểm, một chủ trương, một phương pháp; và là một trong những nghệ thuật chỉ đạo đấu tranh cách mạng độc đáo trong chiến tranh giải phóng chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

Lịch sử dân tộc Việt Nam đã sản sinh ra biết bao những nhà lãnh đạo, chỉ đạo trong chiến tranh có tài thao lược kiệt xuất như Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung, Hồ Chí Minh... Lý Thường Kiệt là người đầu tiên đưa ra một quan niệm mới về nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh vượt ra ngoài khuôn khổ của cuộc đấu tranh vũ trang thuần túy. Đó là sự kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, đấu tranh ngoại giao. Giữa lúc cuộc chiến tranh chống quân xâm lược nhà Tống đang đạt tới lúc quyết định, dân tộc ta đang đại thắng, để giảm bớt tổn thất, đau thương cho nhân dân hai nước, ông chủ trương chấm dứt chiến sự và tiến hành thương lượng dựa trên cơ sở của sức mạnh quân sự làm hậu thuẫn buộc quân địch phải chấm dứt chiến tranh, trả lại toàn bộ đất đai cho Đại Việt. Trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đầu thế kỷ XV, lúc gặp khó khăn, Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã chủ trương giảng hòa với kẻ thù để tranh thủ thời gian chuẩn bị lực lượng mở những cuộc tiến công quyết liệt giành thắng lợi. Chủ trương hoà hoãn của Nguyễn Trãi là hòa trong thế tiến công “ngầm giả hòa thân, trong rèn chiến cụ”1. Còn khi cuộc chiến tranh đến giai đoạn quyết định, kẻ thù tuyệt vọng, tổn binh Vương Thông xin hàng rút quân về nước thì Lê Lợi chủ trương ngừng chiến, mở “Hội thề” có tác dụng như một bản hiệp định đình chiến. Đó là cách kết thúc chiến tranh hết sức mưu trí và sáng tạo; vừa để giữ thể diện triều Minh, vừa biểu thị sâu sắc ý chí hòa bình và lòng nhân đạo của dân tộc “tha kẻ hàng mười vạn sĩ, binh. Sửa hòa hiếu cho hai nước, tắt muôn chiến tranh”2.

Như vậy, đánh và đàm là một chủ trương chỉ đạo đấu tranh trong nghệ thuật quân sự Việt Nam được hình thành và phát triển trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc. Nhưng đánh và đàm trong lịch sử dân tộc mới chỉ là một chủ trương ở phạm vi hẹp giữa hai lực lượng quân sự đối địch. Nó chưa vượt ra khỏi phạm vi giữa hai lực lượng quân sự của hai nước tham chiến. Tiếp thu và kế thừa có chọn lọc những truyền thống và kinh nghiệm quý giá của tổ tiên, của thời đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo những kinh nghiệm ấy vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam. Mỗi thời kỳ cách mạng, Người khéo léo sử dụng các phương pháp, hình thức đấu tranh linh hoạt, mềm dẻo và sáng tạo để đạt mục đích.

Phương châm hành động cơ bản của Người là cứng rắn về nguyên tắc, mềm dẻo về sách lược “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Kết hợp chặt chẽ giữa các hình thức đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao..., đặc biệt trong đàm phán, người sẵn sàng nhân nhượng nhưng là sự nhân nhượng có nguyên tắc. Quan điểm của Người trong đàm phán thực chất là vấn đề điều chỉnh lợi ích của mỗi bên; biết cụ thể hóa mục tiêu của mình; biết nhân nhượng khi cần thiết. Nhưng bao giờ cũng giữ vững mục tiêu xuyên suốt nhằm tạo thế, tạo lực, làm tăng thêm thực lực cách mạng giải phóng là “hòa bình cho dân tộc và độc lập, tự do cho Tổ quốc”.

Trong thời kỳ 1945-1946, cách mạng Việt Nam ngay từ những buổi đầu dựng nước đã ở thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Phía Nam, quân đội Anh chiếm đóng; ở phía Bắc, hai mươi vạn quân Tưởng kéo vào, bọn phản động liên kết với nhau tổ chức bạo loạn hòng lật đổ Chính phủ lâm thời. Lúc này Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã quyết đoán, kể cả phải dùng đến những biện pháp đau đớn để cứu vãn tình thế “không thể do dự. Do dự là hỏng hết”3. Đảng phải tuyên bố tự giải tán vào hoạt động bí mật; Chính phủ phải nhường ghế cho đại diện các đảng phái khác để giữ vững chính quyền non trẻ. Ta đồng ý nhường cho bọn tay sai của giặc Tưởng 70 ghế trong Quốc hội không qua bầu cử và một số chức vụ quan trọng trong Chính phủ, nhưng chủ quyền dân tộc được giữ vững. Khi quân Tưởng Pháp ký Hiệp ước Hoa Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mau chóng đưa ra chủ trương “Hòa để tiến”. Chủ trương này đã dẫn đến Hiệp định sơ bộ ngày 6-3-1946 giữa Việt Nam và Pháp. Trong Hiệp định ghi rõ, Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong khối “Liên hiệp Pháp” là một quốc gia tự do, có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho phép quân Pháp vào một số địa điểm ở Bắc Việt Nam thay thế quân Tưởng Giới Thạch. Để đi đến một quyết định cực kỳ quan trọng có liên quan đến sự sống còn của dân tộc, Người suy nghĩ và cân nhắc rất thận trọng. Đây cũng là bước nhân nhượng cuối cùng vì nhân nhượng nữa là phạm đến chủ quyền của đất nước và lợi ích tối cao của dân tộc. Sau khi ký Hiệp định sơ bộ, ngày 7-3 Người đã phải nói trước quốc dân, đồng bào: “Tôi, Chủ tịch Hồ Chí Minh, suốt đời đã cùng đồng bào chiến đấu cho độc lập của Tổ quốc. Tôi thà chết chứ không bao giờ bán nước”4.

Để có thời gian chuẩn bị cho cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, đồng thời cũng để cho nhân dân Pháp và nhân dân thế giới hiểu rõ thiện chí của ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đích thân sang tận sào huyệt của kẻ thù để thương lượng với Chính phủ Pháp. Người đã quyết định ký Tạm ước 14-9. Đó là quyết định đúng đắn của Người nhằm tranh thủ đến cùng khả năng “Hòa để tiến”. Do vậy “Hòa để tiến” là chủ trương kỳ diệu, một nước cờ cao của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trước kia, Người đã khôn khéo lợi dụng mâu thuẫn của Mỹ - Tưởng và Anh Pháp để hòa hoãn với quân Tưởng ở phía Bắc, đánh Pháp ở phía Nam. Nay Người lại khéo léo lợi dụng mâu thuẫn giữa Pháp và Tưởng để hòa hoãn với Pháp, gạt 20 vạn quân Tưởng ra khỏi Bắc Việt Nam. Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam, một đạo quân lớn đã chiếm lĩnh những địa bàn chiến lược quan trọng trên đất nước ta với ý đồ xâm lược và lật đổ; nhưng chỉ bằng đấu tranh đàm phán để ký Hiệp định sơ bộ, ta đã đuổi 20 vạn quân Tưởng về nước để tập trung lực lượng hướng vào đấu tranh chống kẻ thù chính là thực dân Pháp xâm lược. Đánh giá kết quả to lớn của chủ trương “Hòa để tiến”, Chủ tịch Hồ Chí Minh vạch rõ “... gần một năm tạm hòa bình đã cho chúng ta thời giờ để xây dựng lực lượng căn bản”5.

Như vậy, đánh và đàm trong thời kỳ 1945-1946 thể hiện nét nổi bật của cuộc đấu tranh cách mạng trên mặt trận ngoại giao. Đó là đàm là chủ yếu, đàm để tranh thủ xây dựng lực lượng. Chủ trương đàm phán của Chủ tịch Hồ Chí Minh là chủ động vươn lên khôn khéo, tạo thế đấu tranh có lợi cho đất nước, có “thế” vững, “lực” mạnh, tạo điều kiện cho đà phát triển các mặt mà trước hết là về quân sự, tạo ra sự so sánh lực lượng có lợi cho ta để khi bước vào kháng chiến có đủ khả năng giành thắng lợi. Đàm phán tuy đạt được những kết quả nhất định nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức tỉnh táo, xem đây chưa phải là biện pháp duy nhất để đạt mục tiêu cách mạng. Do đó, Người đã chỉ đạo cho toàn dân ta chuẩn bị lực lượng ngay từ đầu cho cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, nhân dân ta kiên trì đấu tranh giành thắng lợi này đến thắng lợi khác với quyết tâm “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”. Với chiến thắng Điện Biên Phủ, đòn quân sự quyết định như một mốc son chói lọi của lịch sử, buộc thực dân Pháp phải ngồi vào bàn đàm phán, ký Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương, kết thúc chiến tranh chống thực dân Pháp. Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiến hành một cuộc chiến tranh thần thánh với một quyết tâm sắt đá “Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó đi”6. Nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh cách mạng của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn này đã phát triển đến đỉnh cao của nghệ thuật đánh và đàm: đánh để đàm, đàm để đánh và vừa đàm, vừa đánh. Bước phát triển mới này trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta được thể hiện ở sự kết hợp chặt chẽ các hình thức đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, ngoại giao... Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khéo léo sử dụng các phương pháp, các hình thức đấu tranh cách mạng linh hoạt, mềm dẻo, sáng tạo nhưng kiên quyết. Nghệ thuật chỉ đạo đấu tranh cách mạng được thể hiện ở mục tiêu chiến lược quân sự; đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, tiêu diệt làm tan rã ngụy quân, phá tan ngụy quyền.

Tư tưởng chỉ đạo ấy được phản ánh trong bài thơ chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào dịp năm mới 1969 “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Đây là chủ trương hết sức khôn khéo của Người, dựa trên cơ sở khoa học, biết đánh giá đúng đắn bản chất, âm mưu, thủ đoạn và khả năng của kẻ thù, đánh giá đúng tiềm năng, thực lực của nhân dân ta, biết giành thắng lợi cho cách mạng Việt Nam bằng con đường ít tốn xương máu nhất.

Để thực hiện chủ trương trên, quân và dân cả nước đã tích cực xây dựng lực lượng, mở nhiều đợt tiến công, giành những thắng lợi vang dội, đánh bại “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ. Trước sự thất bại của chính quyền bù nhìn và quân đội Việt Nam cộng hòa, để cứu vãn tình thế, đế quốc Mỹ đã điên cuồng mở rộng chiến tranh ném bom, bắn phá miền Bắc Việt Nam, ồ ạt đưa quân Mỹ vào miền Nam Việt Nam thực hiện “chiến tranh cục bộ”. Bằng những đòn tiến công quân sự kết hợp đấu tranh chính trị, ngoại giao, quân và dân ta đã giáng trả đích đáng bọn xâm lược Mỹ. Đặc biệt ở miền Nam, ta đã đánh bại cuộc hành quân Gianxơn Xity 1967; ở miền Bắc, ta bắn rơi hai ngàn máy bay phản lực hiện đại của Mỹ. Giữa lúc cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ “leo thang” đến đỉnh cao nhất thì quân và dân miền Nam mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy vào tận sào huyệt của kẻ thù trong dịp Tết Mậu Thân 1968, giáng một đòn quyết định vào ý chí xâm lược của quân Mỹ. Nước Mỹ “rung chuyển”, buộc tổng thống Mỹ Giônxơn phải xuống thang, tuyên bố chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam không điều kiện và cử đoàn đại biểu ngồi vào bàn đàm phán với ta ở Hội nghị Pari ngày 28-1-1969.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dự đoán và chuẩn bị cho cuộc đấu tranh ngoại giao này trên bàn thương lượng. Người chỉ rõ: “Đánh là điểm chủ yếu, đàm là để hỗ trợ cho đánh. Nắm vững nguyên tắc cứng rắn với sách lược mềm dẻo”7. Trước tình hình mới có lợi cho cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định: Mỹ thua đã rõ ràng. Tuy vậy, đế quốc Mỹ vẫn chưa từ bỏ âm mưu xâm lược, Người chỉ rõ: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B.52 ra đánh Hà Nội, rồi có thua mới chịu thua”8; và ở Việt Nam Mỹ nhất định thua nhưng chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”9.

Như vậy, nghệ thuật chỉ đạo đấu tranh cách mạng ở giai đoạn này được Chủ tịch Hồ Chí Minh hướng vào đánh là chủ yếu, đàm là để hỗ trợ cho đánh. Khi đế quốc Mỹ đã ngồi vào bàn đàm phán, Đảng ta tiếp tục chỉ đạo chiến tranh thực hiện tư tưởng, chủ trương của Người là dựa vào thắng lợi về quân sự để đấu tranh trong đàm phán, và thông qua đàm phán để đấu tranh vạch mặt kẻ thù, kiên trì thực hiện mục tiêu “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Từ năm 1969 đến năm 1973, thực hiện di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong chỉ đạo chiến tranh, trong đấu tranh cách mạng Đảng ta chủ trương “vừa đánh, vừa đàm”. Đánh bằng những đòn quân sự quyết định trên chiến trường như Đường 9 Nam Lào, Quảng Trị, Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ... Quân và dân miền Bắc đã đánh bại cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B.52 của đế quốc Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng, đập tan con bài cuối cùng của sức mạnh Hoa Kỳ và buộc kẻ thù phải ký vào “Hiệp định về việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”. Phát huy những thành quả đã đạt được, quân và dân ta kiên trì đấu tranh thực hiện Hiệp định Pari và khi có thời cơ, đã thống nhất đất nước. Tư tưởng “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thành hiện thực.

Tóm lại, đánh và đàm là một nghệ thuật chỉ đạo đấu tranh cách mạng độc đáo trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh. Mỗi giai đoạn lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng đã vận dụng một cách linh hoạt, mềm dẻo và sáng tạo vào từng điều kiện và hoàn cảnh cụ thể. Trải qua quá trình lãnh đạo, chỉ đạo chiến tranh, đấu tranh cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã đạt tới đỉnh cao của sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, đấu tranh ngoại giao. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đóng góp vào kho tàng lý luận của nền khoa học và nghệ thuật quân sự Việt Nam một nghệ thuật độc đáo đánh và đàm trong chỉ đạo chiến tranh, trong đấu tranh cách mạng để giành thắng lợi.

 

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu nghệ thuật quân sự, số 2,1995, tr.16-24.

 

–––––––––––––––

* Nguyên Giám đốc Học viện Quân sự cấp cao (Nay là Học viện Quốc phòng).

1,2 . Nguyễn Trãi: Bài phú núi Chí Linh.

3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.6, tr.161.

4. Học Viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Hồ Chí Minh: Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, t.3, tr.173.

5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.162.

6. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.407, 426.

7. Tư liệu Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh.

8,9. Xem Tạp chí Lịch sử quân sự, số 24 (12/1987), tr.84.

141 nhac
101 nhac
Bên Lăng Bác Hồ
Vũ Minh Vương
70 nhac
Bác vẫn bên ta
NSND Lê Dung
108 nhac
127 nhac
Biết ơn cụ Hồ
Tốp ca nam nữ Đài TNVN
101 nhac
68 nhac
Cô gái Pako
NSND Thu Hiền
137 nhac
77 nhac
113 nhac
154 nhac
114 nhac
116 nhac
87 nhac
Người Về Thăm Quê
Đức Thuyết
107 nhac
116 nhac
Thăm Bến Nhà Rồng
NSUT Thanh Thanh Hiền
128 nhac
109 nhac
105 nhac
125 nhac
Từ Làng Sen
Phạm Phương Thảo
107 nhac
Vầng Trăng Ba Đình
NSND Thanh Hoa
61 nhac
Viếng Lăng Bác
Hương Mơ
103 nhac
Việt Nam Đẹp Nhất Có Tên Bác Hồ
Hợp xướng Nhà Hát GHVN
106 nhac
Lời Bác Hồ Rung Chuyển Bốn Phương
Đoàn ca múa QK Việt Bắc
146 nhac
Suối Lê Nin
Thúy Hà
112 nhac
Miền Nam Đón Mừng Thơ Bác
Tốp ca nữ Đài TNVN
66 nhac
Về Chùa Trầm Nhớ Bác
Hồng Liên-Phương Quý.
89 nhac
Mang Hình Bác Chúng Ta Đi
Tốp ca nam nữ Đài TNVN
91 nhac
132 nhac

 

SÁCH  ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN HỌC TẬP VÀ LÀM THEO

TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH  HỒ CHÍ MINH

Hotline: 0376351594

Email: Lehaonlu@gmail.com

Đang online : 8

Hôm nay : 89

Trong tháng : 2236

Tổng truy cập : 31232