logo
banner
*Tìm kiếm - Tra cứu thông tin:

Đại tá, TS. DƯƠNG ĐÌNH LẬP*

 

Trong xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân (gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ và du kích), Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức coi trọng và khéo giải quyết việc xây dựng từng thứ quân, kết hợp và phát huy vai trò to lớn của ba thứ quân phù hợp với yêu cầu của chiến tranh nhân dân Việt Nam. Mỗi thứ quân trong các lực lượng vũ trang nhân dân đều giữ một vai trò nhất định trong chiến tranh. Đối với dân quân tự vệ và du kích, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định: Đó là một lực lượng trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng ở nước ta. Người nhấn mạnh: “Dân quân, tự vệ và du kích là lực lượng của toàn dân tộc, là một lực lượng vô địch, là một bức tường sắt của Tổ quốc. Vô luận địch nhân hung bạo thế nào, hễ đụng vào lực lượng đó, bức tường đó, thì địch nào cũng phải tan rã”1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát huy vai trò chiến lược của lực lượng dân quân tự vệ và du kích2 được biểu hiện trong thực tiễn của cách mạng Việt Nam.

1. Dân quân tự vệ và du kích là hình thức tổ chức ban đầu của lực lượng vũ trang cách mạng ở nước ta

Tiếp thu chủ nghĩa Mác Lênin về khởi nghĩa vũ trang, chiến tranh và quân đội, xuất phát từ thực tiễn dân tộc Việt Nam bị chủ nghĩa thực dân thống trị, ngay khi mới về nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chú trọng đến việc xây dựng các đội tự vệ, đội du kích. Theo Người, trước khi khởi nghĩa phải tổ chức những đội tự vệ, đội du kích và “Du kích là cách đánh giặc của dân tộc bị áp bức chống đế quốc”3. Tổ chức du kích có thể từ tiểu tổ, tiểu đội, trung đội, đại đội đến chi đội.

Trong các tác phẩm do Chủ tịch Hồ Chí Minh viết hoặc trực tiếp chỉ đạo biên soạn như Con đường giải phóng, Cách đánh du kích, Chính trị viên trong quân đội, Công tác chính trị trong quân đội... đã tập trung lý giải làm sáng tỏ vai trò, cách tổ chức những đội tự vệ, đội du kích và cách đánh du kích trong khởi nghĩa. Như vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân quân tự vệ và du kích có vai trò rất to lớn. Việc xây dựng lực lượng dân quân tự vệ và du kích là một trong những nhiệm vụ cấp bách trong xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng của Đảng. Theo quan điểm đó, từ năm 1941, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp chỉ đạo Đảng bộ Cao Bằng tuyển lựa những người hăng hái trong hội cứu quốc tổ chức thành đội tự vệ và chọn một số đội viên tự vệ cứu quốc quân thành lập đội tự vệ chiến đấu. Tháng 11-1941, Người chỉ thị tổ chức đội vũ trang Cao Bằng gồm một số cán bộ, đội viên tự vệ chiến đấu tuyển chọn ở các xã thuộc tổng Lục Khu, châu Hà Quảng. Sau một thời gian hoạt động, Người chỉ thị cho đội phân tán cán bộ và đội viên về xã tổ chức các đội du kích.

Cùng với sự phát triển của phong trào Việt Minh, lực lượng tự vệ và tự vệ chiến đấu được thành lập ở các xã, châu “hoàn toàn” của Cao Bằng, rồi dần dần phát triển ra nhiều địa phương rộng lớn của cả nước. Trên cơ sở đó, theo Chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập. Trong cao trào kháng Nhật cứu nước năm 1945, dựa vào chiến tranh du kích đã được phát động, chính quyền khu giải phóng được thành lập, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và các tổ chức vũ trang cách mạng cả nước được thống nhất thành Việt Nam giải phóng quân.

Trên cơ sở các tổ chức chính trị được củng cố vững mạnh và phong trào phát triển rộng khắp, dân quân tự vệ và du kích đã lớn mạnh nhanh chóng và trở thành lực lượng chủ yếu bảo vệ cơ sở đảng, bảo vệ cơ sở quần chúng, hỗ trợ đắc lực cuộc đấu tranh chính trị của nhân dân, tiến dần lên phát động chiến tranh du kích, cùng nhân dân đứng lên khởi nghĩa từng phần, đánh đổ chính quyền của địch ở từng địa phương, mở rộng căn cứ địa cách mạng.

Thực hiện Lời kêu gọi Tổng khởi nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tháng 8-1945, dân quân tự vệ và du kích ở khắp Bắc, Trung, Nam đã cùng Việt Nam giải phóng quân kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị của hàng triệu quần chúng, dùng bạo lực cách mạng giành chính quyền về tay nhân dân trong phạm vi cả nước. Bấy giờ, giải phóng quân còn nhỏ bé, dân quân du kích đã phát triển rất rộng rãi khắp đất nước. Do đó, ở nhiều nơi, đặc biệt là Hà Nội, Huế, Sài Gòn, dân quân tự vệ và du kích đã đóng vai trò lực lượng vũ trang xung kích cùng quần chúng cách mạng tiến hành khởi nghĩa thắng lợi.

Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, lực lượng dân quân tự vệ và du kích phát triển hơn nhiều so với trước và tạo cơ sở thuận lợi để mở rộng, xây dựng Giải phóng quân thành quân đội chính quy của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tức Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay. Như vậy, cùng với các đội tự vệ, đội du kích do Đảng lãnh đạo ra đời như: Tự vệ đỏ trong cao trào Xôviết Nghệ Tĩnh, các đội du kích trong khởi nghĩa Bắc Sơn, khởi nghĩa Nam Kỳ, khởi nghĩa Ba Tơ, v.v. các đội tự vệ và du kích ở Cao Bằng do Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tổ chức và xây dựng là hình thức tổ chức đầu tiên của các lực lượng vũ trang cách mạng ở Việt Nam. Dân quân tự vệ và du kích đã cùng với Giải phóng quân là lực lượng xung kích cùng toàn dân tiến hành Tổng khởi nghĩa Tháng Tám thành công.

2. Cùng bộ đội địa phương tiến hành chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch và bảo vệ hậu phương

Chiến tranh du kích là một trong hai phương thức tiến hành chiến tranh cách mạng của nhân dân ta. Nét đặc sắc của chiến tranh du kích Việt Nam là tư tưởng tiến công địch, kiên trì bám làng xã, phố phường, phát động toàn dân vũ trang, toàn dân đánh giặc nhằm chống lại quân xâm lược đông, trang bị vũ khí mạnh. Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (ngày 20-12-1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân cứu nước”4.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Đánh giặc là một trong những nhiệm vụ quan trọng của dân quân tự vệ và du kích trong kháng chiến. Người nêu rõ: “Đế quốc có khí giới tốt, có quân đội đàng hoàng; quân du kích không có khí giới tốt, chưa thành quân đội đàng hoàng; nhưng quân du kích được dân chúng ủng hộ, thuộc địa hình, địa thế, khéo lợi dụng đêm tối, mưa nắng, khéo xếp đặt kế hoạch, nên quân du kích vẫn có thể đánh được đế quốc”5. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mở rộng, trên toàn quốc hình thành những vùng tự do rộng lớn và những khu du kích, căn cứ du kích trong vùng địch tạm chiếm. Với chủ trương “biến hậu phương địch thành hậu phương ta”, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động chiến tranh du kích rộng khắp. Dân quân tự vệ và du kích là lực lượng chủ yếu để tiến hành chiến tranh du kích. Về nhiệm vụ của dân quân tự vệ và du kích ở vùng sau lưng địch, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “... phá âm mưu của địch; dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”6 của chúng. Theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, dân quân tự vệ và du kích là lực lượng vũ trang đông đảo, không thoát ly sản xuất, luôn bám đất, bám dân đánh giặc ngay tại quê hương, ở các vùng đồng bằng, rừng núi bằng mọi thứ vũ khí, mọi thủ đoạn; tiến công địch ở mọi nơi, mọi lúc, nhằm vào đồn bốt, kho tàng, sân bay, bến cảng, cầu cống, đường giao thông... Những hoạt động độc lập của dân quân tự vệ và du kích hoặc phối hợp với bộ đội địa phương hoạt động đã có tác dụng to lớn trong việc tiêu hao, tiêu diệt quân địch, làm cho chúng ăn không ngon, ngủ không yên, đi đến đâu cũng bị ta đánh.

Tuy nhiên, có lúc phong trào đánh giặc trong dân quân tự vệ và du kích chưa đều, hiệu quả còn hạn chế. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nghiêm khắc chỉ ra những khuyết điểm cần được sửa chữa ngay. “Nhiều nơi chưa hiểu rõ ràng, chưa hiểu triệt để ý nghĩa du kích, vì vậy mà có khuynh hướng sai lầm là ham đánh trận to, ham đánh những cứ điểm kiên cố của địch”7. Khắc phục khuyết điểm đó, Người chỉ rõ: “... phải luôn luôn giữ quyền chủ động, phải tìm địch mà đánh, phải luôn luôn khuấy rối phá hoại địch”8. Quán triệt giáo huấn của Người, dân quân tự vệ và du kích đẩy mạnh hoạt động ở nhiều nơi. Những hoạt động sôi nổi, mạnh mẽ của “Các chiến sĩ dân quân, tự vệ và du kích ở Nam Bộ, ở Thủ đô, ở miền duyên hải và ở các nơi, đã chứng rõ sự thực đó một cách anh hùng... càng chứng tỏ cho địch biết, to cho thế giới biết rằng dân quân, tự vệ và du kích Việt Nam là những chiến sĩ ái quốc sắt đá, là những chiến sĩ anh hùng”9.

Đến năm 1948 khi chiến tranh du kích phát triển mạnh mẽ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị một trong những nguyên tắc hoạt động của dân quân tự vệ và du kích là: “... phải hoạt động mạnh, phát triển mạnh, và phối hợp chặt chẽ với Vệ quốc quân... cố gắng thi đua, để tranh lấy thành tích to lớn hơn nữa, vẻ vang hơn nữa”10. Những hoạt động mạnh mẽ của dân quân tự vệ và du kích ở vùng địch hậu đã có tác dụng kìm chế và phân tán, căng kéo lực lượng quân sự địch, tạo nên thế chiến lược có lợi cho ta, đẩy mạnh tác chiến tập trung của bộ đội chủ lực tiêu diệt lớn quân địch; đồng thời xây dựng được những căn cứ làm nơi xuất phát tiến công cho bộ đội chủ lực ta ngay trong lòng địch.

Trong bảo vệ hậu phương, dân quân tự vệ và du kích cũng giữ vai trò hết sức quan trọng. Kẻ địch luôn âm mưu phá hoại hậu phương ta bằng nhiều thủ đoạn hòng làm suy yếu tiềm lực kinh tế, chính trị, quân sự của ta. Trước âm mưu của địch, quân và dân ta phải tập trung mọi nỗ lực để đối phó. Trong điều kiện bộ đội chủ lực không thể bố trí ở khắp vùng hậu phương, dân quân tự vệ và du kích cùng bộ đội địa phương là lực lượng đánh địch, đối phó với địch bất cứ lúc nào, chỗ nào để bảo vệ hậu phương một cách hiệu quả. Dân quân tự vệ và du kích được tổ chức rộng rãi ở khắp nơi, thường hiểu biết tình hình và thông thạo địa hình, nên có khả năng cơ động nhanh nhất trong việc ngăn chặn và đánh bại mọi hành động phá hoại lén lút của bọn gián điệp, thổ phỉ, biệt kích của địch; đồng thời kịp thời đánh trả các cuộc tiến công phá hoại bất ngờ bằng đường không, đường bộ, đường thủy của địch, bảo vệ nhà máy, hầm mỏ, cầu cống, bến cảng, kho tàng... Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm chỉ đạo phát động toàn dân, lấy dân quân tự vệ và du kích làm nòng cốt phối hợp với bộ đội địa phương đánh địch ở khắp mọi nơi. Những năm kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn theo dõi và gửi thư biểu dương dân quân tự vệ và du kích đã phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương hoặc tự mình đánh giặc, trừ gian, diệt hội tề, phá giao thông của địch. Quân địch tiến công vào bất kỳ nơi nào trong hậu phương của ta không có bộ đội chủ lực đóng, chúng vẫn bị lực lượng dân quân tự vệ và du kích ta chặn đánh tiêu diệt.

Dân quân tự vệ và du kích cùng công an nhân dân còn là lực lượng quan trọng giữ vững an ninh, bảo vệ sản xuất, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân, bảo vệ Đảng và chính quyền địa phương, góp phần xây dựng hậu phương vững mạnh. Như vậy, dân quân tự vệ và du kích giữ vai trò hết sức quan trọng trong việc phối hợp với bộ đội địa phương đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch và bảo vệ hậu phương của ta trong kháng chiến.

3. Nguồn bổ sung lực lượng và phục vụ đắc lực cho yêu cầu tác chiến của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương

Trong điều kiện lực lượng vũ trang cách mạng còn nhỏ bé, ta chỉ có thể dùng chiến tranh du kích, lấy dân quân tự vệ và du kích làm lực lượng nòng cốt để tiến công tiêu diệt địch. Muốn đưa chiến tranh cách mạng phát triển, phải xây dựng bộ đội chủ lực ngày càng lớn mạnh và đưa chiến tranh du kích phát triển lên chiến tranh chính quy. Nhận thức rõ quy luật này, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chú trọng đến việc xây dựng bộ đội chủ lực, không ngừng phát triển cả về quân số và tổ chức biên chế, trang bị.

Là lực lượng vũ trang trực tiếp ở cơ sở, dân quân tự vệ và du kích đã tích cực bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân, giữ kho người, kho của cho kháng chiến, tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng và phát triển bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương. Căn cứ vào điều kiện cụ thể của nước ta, trong Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: phải “chọn lọc trong hàng ngũ những du kích Cao Bắc Lạng số cán bộ và đội viên kiên quyết, hăng hái nhất và sẽ tập trung một phần lớn vũ khí để lập ra đội chủ lực”11. Như vậy, ngay từ đầu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định dân quân tự vệ và du kích là nguồn bổ sung quan trọng để xây dựng đội quân chủ lực đầu tiên của Đảng.

Trong quá trình kháng chiến, được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh giáo dục, rèn luyện, dân quân tự vệ và du kích đã trở thành nguồn nhân lực dồi dào bổ sung và dự trữ cho việc mở rộng, phát triển bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương. Trên cơ sở phong trào kháng chiến toàn dân, vũ trang toàn dân, nhất là lực lượng dân quân tự vệ và du kích phát triển rộng khắp, tháng 4-1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh thành lập bộ đội địa phương. Tháng 8-1949, Đại đoàn bộ binh 308 đại đoàn chủ lực đầu tiên của quân đội ta được thành lập. Tiếp đó, trong những năm 1950-1952, các đại đoàn bộ binh 304, 312, 320, 316, 325 lần lượt được thành lập. Nhiều chiến sĩ và cán bộ dân quân tự vệ, du kích có phẩm chất chính trị và kinh nghiệm đã được bổ sung vào các đơn vị bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương. Trong những năm cuối của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và suốt cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương lớn mạnh và trưởng thành đều có sự đóng góp quan trọng của lực lượng dân quân tự vệ và du kích.

Để bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương tác chiến tập trung tiêu diệt lớn quân địch, yêu cầu về phục vụ và bảo đảm chiến đấu hết sức to lớn và phức tạp. Dân quân tự vệ và du kích có số lượng đông đảo là lực lượng luôn đáp ứng những yêu cầu, bảo đảm cho bộ đội chủ lực tác chiến lớn. Trong quá trình chuẩn bị chiến đấu, dân quân tự vệ và du kích là lực lượng vận chuyển lương thực, vũ khí, đạn dược, thuốc men, sửa chữa đường sá, cầu cống, bảo đảm cho bộ đội hành quân chiến đấu theo đúng kế hoạch đề ra. Với sự am hiểu sâu sắc về tình hình địa phương, thông thạo đường đi lối lại, dân quân tự vệ và du kích là những người dẫn đường tin cậy, cung cấp những tài liệu chính xác về địa hình và tình hình địch cho bộ đội, làm tốt công tác địch vận…

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, dân quân tự vệ và du kích phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và khả năng tác chiến. Dựa vào các làng chiến đấu được xây dựng ngày càng phổ biến, sử dụng thành thạo vũ khí thô sơ và dần dần cải tiến, dân quân tự vệ và du kích đã trở thành lực lượng nòng cốt trong phong trào toàn dân đánh giặc. Phối hợp với bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương, dân quân tự vệ và du kích đã đánh bại nhiều cuộc càn quét của địch, mở rộng khu căn cứ, bảo vệ vùng tự do của ta. Thực hiện chủ trương của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch, dân quân tự vệ và du kích phối hợp với bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương chiến đấu, tiêu hao và tiêu diệt một bộ phận sinh lực của địch, nổi bật là trong chiến dịch Hòa Bình và chiến dịch Điện Biên Phủ, góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, lực lượng dân quân tự vệ và du kích phát triển lớn về số lượng, được trang bị nhiều vũ khí và tương đối hiện đại, đã phát huy tác dụng to lớn trong chiến tranh. Thực hiện Lời kêu gọi “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lực lượng dân quân tự vệ và du kích cùng quân và dân cả nước với khí thế hào hùng kiên quyết đánh giặc Mỹ. Trong những năm chống chiến tranh phá hoại ở miền Bắc, các đơn vị dân quân tự vệ và du kích lập thành tích lớn bắn rơi 424 máy bay, bắn cháy 164 tàu chiến địch, đồng thời tiến hành rà phá được hàng vạn quả bom mìn, bảo đảm giao thông luôn thông suốt, góp phần chi viện tích cực cho cách mạng miền Nam. Trên chiến trường miền Nam, dân quân tự vệ và du kích được tăng cường vũ khí trang bị, đẩy mạnh chiến tranh du kích, cùng bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương làm tiêu hao và tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, góp phần đánh bại các chiến lược chiến tranh thực dân kiểu mới của đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam.

4. Tiếp tục phát huy vai trò của dân quân tự vệ và du kích theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Đất nước thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ xây dựng bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương nói chung, xây dựng dân quân tự vệ và du kích nói riêng có những yêu cầu mới. Đại hội lần thứ IV của Đảng đã chỉ rõ: “phải xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân hùng mạnh, có lực lượng thường trực mạnh, lực lượng hậu bị rộng rãi và được huấn luyện tốt, có quân đội nhân dân chính quy, hiện đại gồm các quân chủng, binh chủng cần thiết, có bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, có lực lượng dân quân tự vệ hùng hậu”12.

Theo phương hướng đó, cùng với việc đẩy mạnh xây dựng bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương, Đảng ta rất quan tâm đến việc xây dựng dân quân tự vệ và du kích. Đó là lực lượng vũ trang quần chúng rộng rãi, không thoát ly sản xuất, được tổ chức ở thành thị và nông thôn, miền núi và đồng bằng, do cấp ủy đảng, chính quyền địa phương trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo người chỉ huy quân sự ở địa phương trực tiếp chỉ huy, vừa lao động sản xuất, vừa chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu, kết hợp với lực lượng an ninh cơ sở giữ gìn trật tự xã hội, an ninh ở địa phương; là lực lượng chiến lược của chiến tranh nhân dân địa phương, làm nòng cốt cho toàn dân bảo vệ Tổ quốc.

Xác định đúng đắn việc xây dựng và phát huy vai trò của dân quân tự vệ và du kích theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong các cuộc kháng chiến và bảo vệ Tổ quốc trong mấy chục năm qua đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu, chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu, xây dựng, phát triển phù hợp với thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trước hết, phải phát triển rộng rãi dân quân tự vệ và du kích về số lượng. Đó là một yêu cầu hết sức quan trọng của nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang quần chúng của Đảng. Kẻ địch nếu liều lĩnh phát động chiến tranh xâm lược nước ta, chúng sẽ vấp phải sự chống trả không chỉ của vài chục vạn, vài triệu, mà hàng chục triệu người và toàn thể dân tộc Việt Nam, phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, bộ đội biên phòng, công an nhân dân đánh chúng ở khắp mọi nơi.

Hai là, tổ chức xây dựng lực lượng dân quân tự vệ và du kích hợp lý giữa nông thôn và thành thị, miền núi và đồng bằng, giữa các ngành kinh tế quốc dân và các ngành hoạt động khác trong xã hội, sẵn sàng bổ sung cho bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương khi cần thiết.

Ba là, từng bước trang bị một số vũ khí và phương tiện chiến tranh tương đối hiện đại, hình thành một số tổ, đội, đơn vị mang tính chất binh chủng trong dân quân tự vệ và du kích; đồng thời chú trọng phát triển các loại vũ khí thô sơ và cải tiến phù hợp với điều kiện chiến đấu mới.

Bốn là, xác định nội dung huấn luyện và cách huấn luyện quân sự cho dân quân tự vệ và du kích phù hợp với yêu cầu chiến đấu ở từng địa phương. Phải làm cho dân quân tự vệ và du kích thông thuộc địa phương, có bản lĩnh chiến đấu độc lập giỏi, đồng thời phối hợp chiến đấu chặt chẽ với các lực lượng tác chiến ở địa phương.

Năm là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với dân quân tự vệ và du kích, coi trọng công tác chính trị, tăng cường bản chất giai cấp và tiêu chuẩn chính trị trong công tác tổ chức, làm cho dân quân tự vệ và du kích luôn là công cụ sắc bén và tin cậy bảo vệ Đảng và chính quyền nhân dân ở cơ sở.

Sáu là, kết hợp xây dựng kinh tế với củng cố quốc phòng, xây dựng các khu vực phòng thủ (làng, xã, khu phố...), xây dựng hậu phương vững chắc cho thế trận chiến tranh nhân dân ở địa phương...

Nắm vững và thực hiện tốt những vấn đề trên, từ phát triển dân quân tự vệ và du kích về số lượng thật rộng rãi đến nâng cao không ngừng chất lượng về mọi mặt trong điều kiện mới của đất nước, chúng ta sẽ thực hiện được lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Mỗi người dân là một dũng sĩ, mỗi làng xã, khu phố là một pháo đài, mỗi hợp tác xã, xí nghiệp là một cơ sở hậu cần của chiến tranh nhân dân, biến cả nước thành một trận địa vững chắc, đánh bại mọi kẻ thù xâm lược.

 

Nguồn: Học viện Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Tư tưởng Hồ Chí Minh về dựng nước và giữ nước,

Nxb.Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2000, tr.494-507.

 

––––––––––––––––––––

* Chủ nhiệm bộ môn Lịch sử tổ chức quân sự - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.5, tr.132.

2. Tháng 2-1947, tự vệ và du kích gọi thống nhất là dân quân, gồm hai thành phần: dân quân tự vệ và du kích địa phương. Đến tháng 4-1949, du kích địa phương chuyển thành bộ đội địa phương. Trong bài viết này, chúng tôi trình bày thống nhất là dân quân tự vệ và du kích.

3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.469.

4, 5, 6. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.480; t.3, tr.469; t.6, tr.461.

7, 8, 9. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.415, 416, 132.

10. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.598.

11. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.507.

12. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, t.37, tr.587.

141 nhac
101 nhac
Bên Lăng Bác Hồ
Vũ Minh Vương
71 nhac
Bác vẫn bên ta
NSND Lê Dung
108 nhac
127 nhac
Biết ơn cụ Hồ
Tốp ca nam nữ Đài TNVN
101 nhac
68 nhac
Cô gái Pako
NSND Thu Hiền
137 nhac
77 nhac
113 nhac
154 nhac
115 nhac
116 nhac
87 nhac
Người Về Thăm Quê
Đức Thuyết
107 nhac
116 nhac
Thăm Bến Nhà Rồng
NSUT Thanh Thanh Hiền
128 nhac
109 nhac
105 nhac
125 nhac
Từ Làng Sen
Phạm Phương Thảo
107 nhac
Vầng Trăng Ba Đình
NSND Thanh Hoa
61 nhac
Viếng Lăng Bác
Hương Mơ
103 nhac
Việt Nam Đẹp Nhất Có Tên Bác Hồ
Hợp xướng Nhà Hát GHVN
106 nhac
Lời Bác Hồ Rung Chuyển Bốn Phương
Đoàn ca múa QK Việt Bắc
146 nhac
Suối Lê Nin
Thúy Hà
112 nhac
Miền Nam Đón Mừng Thơ Bác
Tốp ca nữ Đài TNVN
66 nhac
Về Chùa Trầm Nhớ Bác
Hồng Liên-Phương Quý.
89 nhac
Mang Hình Bác Chúng Ta Đi
Tốp ca nam nữ Đài TNVN
91 nhac
132 nhac

 

SÁCH  ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN HỌC TẬP VÀ LÀM THEO

TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH  HỒ CHÍ MINH

Hotline: 0376351594

Email: Lehaonlu@gmail.com

Đang online : 14

Hôm nay : 99

Trong tháng : 2246

Tổng truy cập : 31242